Hòa giải

Cách đây mấy năm, giáo sư của mình gọi nói là có một dự án của trường về Reconciliation, nếu muốn tham gia thì bảo thầy. Lúc đấy mình còn chả biết cái từ đó nghĩa là gì trong môi trường học thuật, cũng gật, vì mình không bao giờ từ chối bất kỳ một cơ hội nào giáo sư đưa cho mình.

Sau một vài năm, cuối cùng mình cũng hơi hơi hiểu nghĩa của từ này.

Reconcile with the “others” – hòa giải với người khác

Hai năm trở lại đây, mình đọc lại những gì mình đã viết kể từ khi đi du học, tìm xem quá trình hòa giải diễn ra như thế nào đối với mình. Hóa ra những ngày ở một đất nước từng được coi là “kẻ thù” của dân tộc, lại có thể thay đổi cách mình nhìn nhận thế giới, lịch sử, và chính bản thân mình.

Trong nghiên cứu của mình ở dự án này, mình mang bản thân lên bàn mổ. Mỗi bài thuyết trình đều có phần nói về vị trí của mình trong nghiên cứu, và đây là câu chuyện mình đã nói rất nhiều lần trước rất nhiều người, nhưng thật may là mình nói bằng tiếng Anh, nên đã giảm bớt rất nhiều rất nhiều đau thương. Mình sinh ra và lớn lên trong một gia đình “cách mạng”, một kiểu gia đình mà lý lịch mấy đời đều “trong sạch”: làm nông – nhập ngũ – làm nhà nước, kiểu vậy. Ông ngoại mình lên đến cấp tá trong quân đội, có ảnh chụp với Bác Hồ (dù sau đó tấm ảnh đã bị mất trong một trận lũ). Bác mình hy sinh ở miền Trung, đến bây giờ hài cốt vẫn chưa được tìm thấy. Viết đến đây, lại muốn khóc, mặc dù mình chưa từng biết mặt bác, tất cả chỉ là những lời kể ít ỏi. Bác mình hy sinh khi còn trẻ quá.

Đò lên Thạch Hãn xin chèo nhẹ

Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.

Có tuổi hai mươi thành sóng nước

Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm.

Mình chưa bao giờ là một đứa nhỏ thích lịch sử. Nhưng mình lớn lên với những bài hát cách mạng, mình thuộc nhạc đỏ thuộc thơ Cách mạng gấp nhiều lần nhạc trẻ, chỉ bởi vì mình thích âm hưởng và giai điệu hào hùng và tích cực của thơ nhạc kháng chiến. Bạn bè ở Nhật gọi mình là VC girl (gái Việt Cộng), và mình cũng chẳng thấy có gì sai.

Một lần mình dẫn bạn nước ngoài đến bảo tàng chứng tích chiến tranh ở Sài Gòn. Qua mỗi phòng, mình lại ra ngoài ngồi một lúc. Sau đó, mình bảo bạn tự đi, bạn hỏi vì sao. Mình bảo… nó mới quá, thật quá. Đó không phải điều mình trải qua, nhưng đó là ký ức của mình, điều đó vẫn làm mình cảm thấy đau đớn và khó thở.

Mình nhớ ngày đầu tiên đi thăm Bảo tàng Hòa bình Hiroshima. Đứng trước những hiện vật còn sót lại, như chiếc xe đạp của một cậu bé, những mảnh vỡ của đời sống thường ngày, những cánh hạc giấy mang theo bao nhiêu hy vọng, mình cảm thấy y như lúc mình đến bảo tàng chiến tranh ở Sài Gòn.

Có một nhóm học sinh Nhật đang tham quan bảo tàng. Khi nghe hướng dẫn viên kể về những người đã mất trong vụ ném bom, nhiều em đã khóc. Và rồi, không hiểu sao, mình cũng rơi nước mắt. Không phải vì mình là người Việt, không phải vì lịch sử xung đột, mà chỉ đơn giản vì mình cảm nhận được nỗi đau của con người, nỗi đau không có biên giới quốc gia, do chiến tranh – cho dù cuộc chiến đó mang cái tên nào.

Mình dạy tiếng Việt cho một bác người Nhật. Bác kể về những năm ngay sau chiến tranh ở Nhật, khó khăn như thế nào, đến mức mẹ bác đã đổi chiếc nhẫn cưới để mua gạo cho cả nhà. Câu chuyện này chắc hẳn không có gì hiếm lạ, nếu hỏi ông bà mình, cụ mình, thậm chí cha mẹ mình, có lẽ cũng chẳng khác gì.

Lần nào ra nước ngoài mình cũng được hỏi về chiến tranh Việt Nam. Lần nào mình cũng khóc. Nhưng sau đó mình quyết định đọc rất nhiều về chiến tranh Việt Nam / kháng chiến chống Mỹ. Về những người lính ở cả hai bên, về câu chuyện một người mẹ Việt Nam có con hy sinh đã bằng lòng tha thứ cho những người lính Mỹ, hay về các cựu binh Mỹ bị ám ảnh bởi những gì đã xảy ra.

Không còn là “chúng ta và họ”, mà là “tất cả chúng ta”, những con người bị cuốn vào dòng xoáy của lịch sử.

But… who are the others – Nhưng… ai là người khác?

Ai là người khác?

Quá dễ để nhận định nếu đối phương là Nhật, Pháp, Mỹ hay là Trung Quốc.

Nhưng… nếu đối phương cũng là người Việt? Người mẹ Việt Nam có thể tha thứ cho người lính Mỹ, nhưng sẽ khó khăn hơn rất nhiều khi phải tha thứ cho những người nói cùng thứ ngôn ngữ, thậm chí sinh ra cũng một nơi, uống chung một nguồn nước. Những đồng bào cầm súng chĩa vào đồng bào. Hoặc, những đồng bào đã đuổi đồng bào ra khỏi chính quê hương mình.

Đây là vấn đề của cả hai phía.

Mình đã luôn nghĩ, làm sao mình có thể đối mặt một cách bình thường với một người mà trong tâm trí nhiều người thân của mình vẫn coi là “ngụy”? Làm sao mình có thể hòa giải với một phần lịch sử mà mình đã được dạy để nhìn nhận theo một cách nhất định?

À, đến đây thật khó mà sắp xếp lại suy nghĩ sao cho mạch lạc.

Nhưng mình đã học được rằng hòa giải không phải là quên đi quá khứ, mà là hiểu rằng quá khứ có nhiều góc nhìn, và tất cả đều quan trọng.

Mình bắt đầu hiểu rằng hòa giải với “bên kia” không phải là phủ nhận niềm tin hay giá trị của mình. Đó là việc mở lòng để chấp nhận rằng mỗi người đều có lý do cho những lựa chọn của họ, rằng không ai hoàn toàn đúng hay hoàn toàn sai. Đó là quá trình khó khăn và đau đớn nhưng cần thiết để chữa lành những vết thương mà chiến tranh và chia rẽ đã để lại.

Mình từng đọc được trên mạng có một người Việt ở Mỹ viết là: “Mỗi khi về Việt Nam, tôi vẫn cảm thấy như một người xa lạ. Nhưng mỗi khi ở Mỹ, tôi lại nhớ Việt Nam đến đau lòng.” Câu nói đó đã làm mình suy nghĩ suốt nhiều ngày. Có phải những người rời đi đang sống trong một trạng thái giữa hai thế giới? Thế thì những người ở lại như chúng ta cũng đang sống trong một thực tại đầy ngờ vực, vì quá khứ và hiện tại không ngừng va chạm và nảy sinh nhiều câu hỏi về tính chân thực?

Mình nhớ lần đầu tiên đọc cuốn sách của một tác giả Việt Kiều. Trong đó, tác giả viết về những ngày cuối cùng ở Sài Gòn, về nỗi đau khi phải rời bỏ quê hương, về cảm giác mất mát và nhớ nhung. Mình đã đọc với tất cả sự hoài nghi, vì đó là cái nhìn của “bên kia”. Nhưng thay vào đó, mình tìm thấy một câu chuyện con người, đau thương, chân thật, và đầy tính người.

Kể từ đó, mình đã đọc nhiều hơn, lắng nghe nhiều hơn, và dần dần, mình bắt đầu thấy rằng lịch sử Việt Nam không chỉ có một câu chuyện duy nhất. Đó là câu chuyện dệt từ hàng triệu câu chuyện cá nhân, mỗi sợi tơ đều có giá trị riêng.

Hòa giải không có nghĩa là đồng ý với nhau về mọi thứ. Dù “bên này” hay “bên kia” vẫn có những quan điểm khác nhau về nhiều vấn đề, nhưng vẫn có thể ngồi lại cùng nhau, ăn một bát phở, và trò chuyện như hai con người, không phải như hai kẻ thù, không phải như hai phe đối lập, mà như hai người Việt Nam đang cố gắng hiểu nhau hơn.

Mình tin rằng đây chính là bước đầu tiên và quan trọng nhất của hòa giải: nhìn nhận “bên kia” không phải như một khái niệm trừu tượng, không phải một định nghĩ tuyệt đối là “kẻ thù”, mà như những con người thực sự với vui buồn, yêu ghét. Khi nhìn nhau qua lăng kính của nhân tính chung, những rào cản bắt đầu sụp đổ.

Và có lẽ, đó chính là điều mà thế hệ chúng ta có thể làm, không phải viết lại lịch sử, không phải quyết định ai đúng ai sai, mà là tạo ra chốn an toàn để ai cũng có thể chia sẻ câu chuyện của mình mà không sợ bị phán xét. Một không gian nơi chúng ta có thể bắt đầu hàn gắn không chỉ với “bên kia”, mà còn với chính mình và với lịch sử phức tạp của dân tộc ta.

Mỗi lần mình nhìn vào tấm hình “Nam Bắc Một Nhà” trong tài liệu nghiên cứu, mình không chỉ nghĩ về sự thống nhất địa lý của đất nước, mà còn về một ngày nào đó, khi những người Việt Nam từ mọi miền, mọi phe, có thể thực sự cảm thấy như một gia đình. Khác biệt nhưng vẫn gắn bó, tranh luận nhưng vẫn tôn trọng, và trên hết, luôn sẵn sàng lắng nghe nhau.

Hôm nay, khi viết những dòng này, mình nhận ra rằng hòa giải không phải là đích đến mà là hành trình. Một hành trình không phải lúc nào cũng dễ dàng, nhưng mỗi bước đi đều đáng giá. Bởi vì cuối cùng, chúng ta đều là người Việt Nam, và lịch sử của chúng ta, dù phức tạp và đau thương đến đâu, cũng là một phần của chúng ta.

Và có lẽ, bằng cách học cách hòa giải với nhau, chúng ta cũng đang học cách hòa giải với chính mình.

Leave a comment